So Sánh Tre Việt Nam với Tre Trung Quốc

tre luồng ép làm nhà

Trên một số diễn đàn có bàn luận về vấn đề “tre Việt Nam” và “tre Trung Quốc” , theo quan điểm của những người đăng bài về cách nhận dạng “tre Trung Quốc” là có màu trắng, mắt nhỏ, màu mắt tre và màu thịt tre xêm xêm, gần giống nhau.

Để có một số công bằng cho tre, chúng ta sẽ đi tìm hiểu sự khác biệt của Tre Việt Nam và Tre Trung Quốc.

  1. Tre Trung Quốc.

Ngành công nghiệp sản xuất tre ép ở Trung Quốc đã phát triển được mấy chục năm nay, nhờ nằm trong trào lưu “thuê gia công ngoài” (outsourcing) của toàn cầu hóa mà người Mĩ đã đem công nghệ tre ép làm ván sàn từ Đài Loan di chuyển qua Trung Quốc đại lục (đọc bài tại đây) để sản xuất, tạo tiền đề cho Trung Quốc có một nền công nghiệp sản xuất tre mang lại giá trị khoảng 29.5 tỉ USD trong năm 2018.

Tre Trung Quốc, vốn là tre Moso, trúc lông, đã được đội ngũ khoa học kĩ thuật của Trung Quốc chọn giống và lai tạo trong nhiều năm để phù hợp với các đặc điểm của sản xuất công nghiệp như thân to, thịt dày, mắt mềm, thân thẳng vv loài tre này có đặc điểm sinh trưởng tự nhiên là phát triển các bộ rễ mọc ngầm dưới đất, cây mọc lên mặt đất dạng cây đơn, vì thế rừng tre moso trông rất là thưa (tre mọc tản), khác biệt hoàn toàn so với tre ở xứ nhiệt đới thường mọc thành bụi, và một đặc điểm quan trọng  nữa đó là độ cao phù hợp để sinh trưởng thường rơi vào khoảng 800m trở lên so với mặt nước biển, cho nên giống tre này mọc phổ biến ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, là giống tre thích hợp với khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thấp.

Tên khoa học: Phyllostachys heterocycla (Carr.) Mitford cv. Pubescens

Nhận dạng ván tre Moso: Như các đặc điểm trình bày ở các diễn đàn, tre Moso có màu mắt khá giống với màu thịt tre, mắt nhỏ, mềm, màu sắc đồng đều gần như đồng nhất. Thực ra, những đặc điểm này không hoàn toàn là vốn có của Moso, mà là kết quả của các yêu cầu kĩ thuật trong sản xuất, gồm có: sự đồng đều về màu sắc, yêu cầu này dẫn tới hành động lựa chọn nan tre rất nghiêm khắc, đây là công đoạn trông có vẻ đơn giản nhưng thực ra lại rất quan trọng (đọc bài tại đây), mắt tre là chỗ dễ bị màu đen nhưng với yêu cầu nghiêm ngặt về sự đồng đều màu sắc, nên nó đã được kiểm soát kĩ ở khâu xử lí nan tre (đọc bài tại đây).

Mắt tre Moso thường nhỏ hơn so với mắt tre nhiệt đới mọc bụi.

Một số vùng khác của Trung Quốc, giống cây Moso không sinh trưởng, họ đã dùng các loài tre bản địa để sản xuất thay thế ví dụ như tre Mạnh Tông (Phyllostachys edulis), giống tre này mắt to hơn so với Moso nhưng vẫn nhỏ hơn so với mắt tre Luồng.

Về cấu tạo, Moso khá mềm, thịt mịn, màu sắc tự nhiên thiên về màu sáng, do đó ván Moso khá là dễ phối màu trong nhiều ứng dụng, đạt được độ thẩm mĩ cao và sự yêu thích của  rất nhiều khách hàng trên khắp thế giới.

Tre Moso và Tre Luồng

2. Tre Việt Nam.

Ngành công nghiệp Tre của Việt Nam chưa thực sự phát triển đến cao trào tính cho tới thời điểm hiện tại, trong bối cảnh chiến tranh thương mại toàn cầu, có vẻ ngành công nghiệp Tre Việt Nam đang được hưởng chút lợi ích do khách hàng chuyển từ Trung Quốc qua Việt Nam.

Tuy nhiên, về mặt giá thành, dưới sự đánh giá chung thì cho dù Tre Trung Quốc + thuế chống bán phá giá khi nhập vào thị trường Mĩ vẫn rẻ hơn so với mua Tre tại Việt Nam, lí do chính là do đầu tư sản xuất ở Việt Nam vẫn còn quy mô nhỏ lẻ, sử dụng lao động thủ công thay cho máy móc, năng suất không cao.

Tre Việt Nam được sử dụng để sản xuất chủ yếu là cây Luồng, tên khoa học là: Dendrocalamus barbatus, theo một số tài liệu thì đây là loài cây bản địa của khu vực Thanh Hóa và  Nghệ An, vào thập niên 70, 80 của thế kỉ 20 tre Luồng được trồng nhiều ở Thanh Hóa nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo cho bà con vùng cao, vì tre Luồng có thể ứng dụng được vào nhiều việc như làm cọc chống trong công trình xây dựng, làm kè chống ngập vv

Tre Luồng được trồng nhiều dọc hai bên thủy điện sông Đà nhằm góp phần chống bồi lấp, chống sạt lở đất.

Vào đầu những năm 90 tre Luồng được chọn làm sản xuất công nghiệp do nó cũng có một số đặc điểm phù hợp với tính công nghiệp hóa như thân to, thẳng, thịt đủ dày.

Tuy nhiên, các nhà sản xuất đã gặp phải nhiều trở ngại do khiếm khuyết (cũng có thể là thế mạnh) của tre Luông mang tới, ví như sâu mắt, mắt tre luồng bị sâu hại trong quá trình sinh trưởng, vì mắt tre Luồng so le với nhau cho nên tỉ lệ nan loại do sâu mắt cũng cao, hoặc như độ cứng của mắt tre thường xuyên làm gãy dao phay vv

Đặc điểm tự nhiên của tre Luồng:

Sinh trưởng ở vùng nhiệt đới, mọc thành từng cụm.

Cứng hơn nhiều so với Moso

Về cấu tạo tự nhiên: các bó sợi (fiber) có kích thước to nên ván tre Luồng không thực sự mịn như Moso, dẫn đến quá trình gia công hoàn thiện tốn thêm công đoạn và hao phí.

Ứng dụng của ván công nghiệp làm từ tre Luồng: thớt tre có độ cứng tuyệt vời không làm mẻ dao nhà bạn, tấm lót đường có thể chịu tải hàng trăm tấn.

Về mặt thẩm mĩ: mắt tre Luồng có màu đen hơn mắt tre Moso, nhìn khá là nổi bật trong tấm ván tre, tuy nhiên với một bộ phận khách hàng thì đây là đặc điểm tự nhiên để nhận biết được sản phẩm tre.

Với đặc điểm về sức mạnh của mình, và sự thẩm mĩ nói chung của vật liệu tre, tre Luồng sẽ có thêm nhiều ứng dụng về kiến trúc đời sống.

tre luồng ép làm nhà

không chỉ ứng dụng làm những kiến trúc thấp tầng, tin rằng trong tương lai gần tre Luồng còn có thể tham gia vào xây dựng những kiến trúc cao tầng.

VTK

Để lại bình luận

Scroll
0385726485